Ngành sản xuất Việt Nam tiếp tục tăng trưởng dù chịu áp lực chi phí và nguồn cung
Mạnh Đức | 02/11/2026
Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 10/2026 tăng lên 52,3 điểm, cải thiện trong 16 tháng liên tiếp. Tuy nhiên, sản lượng và đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn do chi phí dầu, nhiên liệu, vận tải tăng nhanh và thời gian giao hàng bị kéo dài…

Sáng 2/11, S&P Global công bố Chỉ số Nhà Quản trị mua hàng (PMI) ngành sản xuất Việt Nam trong tháng 10/2026. Trong đó có 3 điểm nhấn nổi bật: Sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tăng mạnh nhưng chậm hơn; Tốc độ tăng chi phí nhanh hơn trong bối cảnh giá dầu, nhiên liệu và vận tải tăng; Thời gian giao hàng của nhà cung cấp tiếp tục bị kéo dài ở mức độ đáng kể.
Dữ liệu tháng 10 cho thấy ngành sản xuất Việt Nam tiếp tục tăng trưởng, mặc dù giá cả tăng và những khó khăn về nguồn cung đã hạn chế tăng trưởng trong một số trường hợp.
SẢN LƯỢNG VÀ ĐƠN ĐẶT HÀNG MỚI TĂNG CHẬM LẠI
Báo cáo của S&P Global ghi nhận sản lượng và số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn, trong khi việc làm giảm. Chi phí dầu, nhiên liệu và vận tải tăng đã góp phần làm giá cả đầu vào tăng nhanh nhất kể từ tháng 6, thời gian giao hàng của nhà cung cấp bị kéo dài hơn.
PMI ngành sản xuất Việt Nam đã tăng lên 52,3 điểm trong tháng 10 so với mức 51,9 điểm của tháng 9. Kết quả này phản ánh sức khỏe ngành sản xuất tiếp tục cải thiện nhẹ vào đầu quý 4/2026, đồng thời nối dài chuỗi cải thiện điều kiện kinh doanh lên 16 tháng liên tiếp.
Dù vậy, mức độ cải thiện chung vẫn bị hạn chế. Tổng số lượng đơn đặt hàng mới ghi nhận tháng tăng thứ sáu liên tiếp bất chấp sự sụt giảm kéo dài của các đơn đặt hàng xuất khẩu mới; tuy nhiên, tốc độ tăng này là chậm nhất trong chuỗi tăng hiện nay. Tương tự, sản lượng sản xuất tiếp tục tăng theo nhu cầu khách hàng nhưng tốc độ tăng cũng đã chậm lại, rơi xuống mức thấp của sáu tháng do những trở ngại trong việc mua nguyên vật liệu.

Về nhân sự và quy trình vận hành, việc làm đã giảm tháng thứ ba liên tiếp với mức giảm nhẹ, xuất phát từ tình trạng nhân viên nghỉ việc. Dẫu vậy, nhờ số lượng đơn đặt hàng mới tăng chậm hơn cùng khả năng xử lý hiệu quả, khối lượng công việc tồn đọng của các công ty đã giảm nhẹ. Đồng thời, các doanh nghiệp chủ động bán hàng nhằm giải phóng kho bãi, khiến tồn kho hàng thành phẩm sau sản xuất tiếp tục giảm đáng kể.
CHI PHÍ TĂNG NHANH CÙNG KHÓ KHĂN VỀ NGUỒN CUNG
Những trở ngại trong khâu vận tải và nhập khẩu đang tạo ra nhiều thách thức lớn cho chuỗi cung ứng. Do giá nhiên liệu tăng kết hợp với điều kiện thời tiết xấu, thời gian giao hàng của các nhà cung cấp tiếp tục bị kéo dài đáng kể, chạm mức lớn nhất kể từ tháng 4. Đồng thời, việc nhập khẩu gặp khó cùng xu hướng đưa ngay nguyên liệu vào dây chuyền sản xuất đã khiến tồn kho hàng mua sụt giảm mạnh, dù các công ty vẫn cố gắng tăng cường hoạt động thu mua đầu vào.

Về mặt giá cả, chi phí dầu tăng đã kéo giá nhiên liệu và vận tải tăng theo, trở thành nhân tố chính khiến chi phí đầu vào tăng với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 6, mặc dù vẫn thấp hơn hẳn mức tăng vọt được ghi nhận vào thời điểm nổ ra cuộc chiến tranh ở Trung Đông. Để bù đắp, giá cả đầu ra đã tăng nhanh hơn sau khi chỉ tăng nhẹ trong tháng 9.
Đánh giá về tình hình hiện tại, ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, nhận định các công ty Việt Nam hiện đang chật vật duy trì tăng trưởng khi các yếu tố bất lợi đang khiến hoạt động sản xuất khó khăn hơn. Số lượng đơn đặt hàng mới tiếp tục tăng trong tháng 10, từ đó khiến sản lượng tăng mạnh, nhưng trong cả hai trường hợp tốc độ tăng đã chậm lại so với tháng 9.
Trở ngại đối với tăng trưởng thường đến từ môi trường quốc tế. Chi phí nhiên liệu và vận tải tăng khi giá dầu tăng, trong khi các công ty báo cáo gặp khó khăn trong cả khâu nhập khẩu và xuất khẩu. Cho đến này, các công ty đã có thể duy trì sự cải thiện, nhưng sẽ cần có một môi trường thuận lợi hơn để tăng trưởng trong những tháng tới.
Hy vọng về nguồn nguyên liệu thô sẵn có hơn và các điều kiện thị trường tiếp tục cải thiện đã củng cố sự lạc quan về triển vọng sản lượng trong 12 tháng tới. Tâm lý kinh doanh đạt mức cao của tám tháng nhưng vẫn yếu hơn thời điểm trước cuộc chiến tranh ở Trung Đông.
Theo Vneconomy




