GDP sản xuất/GDP sử dụng: Kết quả tích cực, những vấn đề cần lưu ý
TS.Đỗ Văn Huân | 01/09/2026
Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Ngành Thống kê Việt Nam (6/5/1946 - 6/5/2026), Cục Thống kê công bố cuốn sách “Cấu trúc kinh tế Việt Nam 40 năm đổi mới (1986-2025)”. Đáng chú ý, lần đầu tiên một số liệu quan trọng về tương quan giữa GDP sản xuất và GDP sử dụng được công bố, qua đó cho thấy những kết quả tích cực của nền kinh tế, đồng thời đặt ra không ít vấn đề cần tiếp tục phân tích.

KẾT QUẢ TÍCH CỰC TỪ NĂM 2025 TRỞ VỀ TRƯỚC
Kết quả tích cực nổi bật nhất là sự thay đổi trong quan hệ cân đối giữa GDP sản xuất trong nước (cung trong nước) và GDP sử dụng trong nước (cầu trong nước). Theo đó, nền kinh tế đã chuyển từ trạng thái còn thiếu hụt sang trạng thái GDP sản xuất trong nước vượt GDP sử dụng trong nước trong thời kỳ từ năm 2025 trở về trước...
Tình trạng sản xuất trong nước không đáp ứng được nhu cầu sử dụng đã kéo theo nhiều hệ quả kinh tế - xã hội nghiêm trọng. Hậu quả đầu tiên và kéo dài là cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội từ cuối những năm 1970, bùng phát trong những năm 1980 và kéo dài đến đầu những năm 1990.
Tăng trưởng GDP dù liên tục nhưng ở mức thấp; một số năm còn xấp xỉ hoặc thấp hơn tốc độ tăng dân số. GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái trong nhiều năm dưới 100 USD, riêng năm 1988 chỉ đạt 86 USD, thuộc nhóm thấp nhất thế giới. Lạm phát phi mã, có năm lên tới trên 770%; cán cân thanh toán thâm hụt lớn và tỷ lệ thất nghiệp có năm vượt 13%. Tỷ lệ nghèo cũng có thời điểm lên tới khoảng một nửa số hộ gia đình.
Tình trạng GDP sản xuất thấp hơn GDP sử dụng kéo dài cho đến năm 2010. Từ năm 2011 đến năm 2025, cán cân này đã chuyển biến theo hướng tích cực khi GDP sản xuất nhìn chung cao hơn GDP sử dụng. Dù trong giai đoạn 2011-2015 vẫn có ba năm thiếu hụt (2015, 2016 và 2017), nhưng tính chung đã có 12 năm GDP sản xuất vượt GDP sử dụng. Bình quân giai đoạn 2011-2015, mức vượt đạt 2,1%; giai đoạn 2016-2025 đạt 1,35%. Đáng chú ý, trong ba năm 2023-2025, mức vượt đều trên 5%; riêng năm 2024 vượt 7% và năm 2025 vượt 6,6%.
Đây là sự cải thiện quan trọng, cho thấy vị thế của nền kinh tế đã chuyển từ tình trạng sản xuất trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng sang trạng thái sản xuất trong nước vượt nhu cầu sử dụng.
Sự chuyển biến này cũng được phản ánh qua nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội khác. Tăng trưởng kinh tế được duy trì liên tục đến năm 2025, bất chấp những cú sốc lớn từ cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2008, quá trình chuyển đổi chế độ tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô, cũng như đại dịch Covid-19 từ năm 2020 và những tác động lan rộng từ năm 2022.
Quy mô GDP sản xuất tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái đã tăng từ 5,48 tỷ USD năm 1988 lên 514 tỷ USD năm 2025, gấp 93,8 lần.
GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái, từ mức chỉ 86 USD năm 1988, sau 20 năm, đến năm 2008, đã đưa Việt Nam ra khỏi nhóm thu nhập thấp và chuyển sang nhóm thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2025, sau thêm 17 năm, Việt Nam đã chuyển lên nhóm thu nhập trung bình cao, được đánh giá là sớm hơn khoảng ba năm so với mức bình quân của các nước trên thế giới.
Lạm phát phi mã từng là một trong những vấn đề nghiêm trọng của nền kinh tế cũng đã được kiểm soát. Trong giai đoạn 2016-2025, lạm phát được kiểm soát theo mục tiêu trong 10 năm liên tiếp...
Trong quan hệ thương mại hàng hóa với nước ngoài, Việt Nam cũng chuyển từ tình trạng nhập siêu liên tục với quy mô lớn sang xuất siêu liên tục trong 10 năm, từ 2016 đến 2025. Đáng chú ý, trong ba năm gần đây, mức xuất siêu đều trên 20 tỷ USD, riêng năm 2023 đạt trên 28,1 tỷ USD.
Xuất siêu hàng hóa góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam có năm vượt 109 tỷ USD, cao hơn dư nợ nước ngoài ngắn hạn và vượt ngưỡng an toàn tương đương ba tháng nhập khẩu theo thông lệ quốc tế. Nguồn dự trữ này cũng tạo thêm dư địa để ứng phó với các cú sốc từ khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và đại dịch Covid-19, đồng thời góp phần ổn định tỷ giá USD. Trong giai đoạn 2012-2025, tỷ giá có hai năm giảm, bốn năm tăng dưới 1% và bảy năm tăng dưới 2%.
Trên thị trường lao động, tỷ lệ thất nghiệp từ mức 13% năm 1988 đã giảm xuống còn 2,28% hiện nay, trong khi tỷ lệ thiếu việc làm còn 1,65%.
Đời sống và mức sống của người dân cũng được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo lương thực giảm từ 53% năm 1993 xuống 5,8% năm 2016. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều tiếp tục giảm từ 9,2% năm 2016 xuống 4,3% năm 2024.
MỤC TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2026 VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Mục tiêu cho thấy: tốc độ tăng GDP sản xuất tăng trên 10%; GDP bình quân đầu người đạt 5.400-5.500 USD, suy ra với ước tính dân số trung bình tăng 0,95% so với năm 2025 - tức dân số trung bình đạt 103,32 triệu người, và quy mô GDP sản xuất năm 2026 ước đạt 557,9-568,3 tỷ USD, tương ứng tăng 8,55-10,66% so với năm 2025; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo/GDP sản xuất là 24,96%; tốc độ CPI bình quân khoảng 4,5%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân 8,5%, suy ra tốc độ tăng số lao động đang làm việc ước tăng 1,38%; tỷ trọng lao động nông nghiệp là 25,3%; tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ 29,5%; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi ở khu vực thành thị dưới 4%; tỷ lệ hộ nghèo giảm 1-1,5 điểm phần trăm; số bác sĩ/vạn dân: 15,3; số giường bệnh/vạn dân: 34,7; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế: 95,5%; tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn quy định: 95%; tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn môi trường đạt 95%.
Đây là những chỉ tiêu chủ yếu có tính tổng quát ở cả 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, nhưng còn thiếu nhiều chỉ tiêu liên quan đến việc so sánh GDP sản xuất với GDP sử dụng, nhất là tích lũy tài sản, tiêu dùng cuối cùng, xuất nhập siêu hàng hóa, dịch vụ,...
Diễn biến thực tế có liên quan đến GDP sản xuất và GDP sử dụng trong 6, 7 tháng đầu năm và từ đầu năm đến ngày 15/8/2026 có những vấn đề đáng lưu ý:
Trong 6 tháng đầu năm 2026, so với cùng kỳ năm trước, GDP sản xuất tăng 8,18%, là tốc độ tăng cao nhất so với cùng kỳ của nhiều năm trước. Tiêu dùng cuối cùng tăng 8,15%, gần bằng tốc độ tăng của GDP sản xuất. Đáng chú ý, tích lũy tài sản tăng tới 15,2%, gần gấp đôi tốc độ tăng GDP sản xuất. Tính chung, GDP sử dụng trong nước, bao gồm tích lũy tài sản và tiêu dùng cuối cùng, tăng cao hơn GDP sản xuất. Điều đó cho thấy GDP sản xuất có thể đã chuyển sang thấp hơn GDP sử dụng, tức nền kinh tế trở lại trạng thái thiếu hụt, tương tự vị thế trước năm 2010, cách đây khoảng 15 năm.
Điều đáng chú ý là vị thế thiếu hụt này không phải do GDP tăng thấp, cũng không phải do tiêu dùng tăng quá cao. Mặc dù tích lũy tài sản tăng mạnh, về nguyên tắc đây là tiền đề của đầu tư phát triển, nhưng tốc độ tăng vốn đầu tư phát triển tính theo giá thực tế trong 6 tháng đầu năm 2026 chỉ đạt 12,9%, thấp xa so với tốc độ tăng tích lũy tài sản. Nếu tính theo giá so sánh, tốc độ tăng còn thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng tích lũy tài sản...
Có một diễn biến đáng quan tâm, tác động đến quan hệ giữa GDP sản xuất và GDP sử dụng, đó là nhập siêu hàng hóa và dịch vụ...
Về dịch vụ, diễn biến nhập siêu có một số điểm đáng lưu ý:
(1) Việt Nam ở vị thế nhập siêu về dịch vụ.
(2) Nhập siêu dịch vụ liên tục qua các năm.
(3) Quy mô nhập siêu không nhỏ, có nhiều năm ở mức 2 chữ số (trên 10 tỷ USD): năm 2019 là 13,46 tỷ USD; năm 2020: 15,43 tỷ USD; năm 2021: 13,97 tỷ USD; năm 2022: 8,03 tỷ USD; năm 2023: 10,06 tỷ USD; năm 2024: 10,23 tỷ USD.
(4) Tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu về dịch vụ ở mức khá cao, trong đó có nhiều năm ở mức trên 30%, đặc biệt có những năm ở mức rất cao (năm 2020 là 136,9%, 2021 là 198,9%, 2022 là 96,8%).
(5) Trong các khoản dịch vụ, mức nhập siêu lớn nhất là dịch vụ vận tải và dịch vụ khác. Dịch vụ vận tải nhập siêu lớn, chủ yếu do dịch vụ này của Việt Nam còn yếu kém, nhất là vận tải đường biển. Ngay dịch vụ du lịch cũng có một số năm bị nhập siêu (năm 2020 là 1.378 triệu USD, 2021 là 3.681 triệu USD, 2022 là 3.467 triệu USD, 2024 là 520 triệu USD). Nguyên nhân chủ yếu do số khách quốc tế đến Việt Nam lần thứ 2 trở lên còn ít, mức chi tiêu chưa cao có một phần do giá cả ở Việt Nam rẻ vì việc định giá đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái thấp hơn tỷ giá sức mua tương đương khoảng 3,5 lần; số ngày lưu trú ở Việt Nam ngắn (thường dưới 10 ngày). Một số khoản dịch vụ như dịch vụ tài chính, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ chính phủ còn nhập siêu...
Từ diễn biến thực tế trong 6, 7 tháng và tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2026, có thể dự báo về xuất, nhập khẩu và nhập siêu cả năm 2026 như sau:
Về hàng hóa, xuất khẩu tăng 22%, đạt 579,6 tỷ USD; nhập khẩu tăng 34%, đạt 609,7 tỷ USD, nhập siêu khoảng 30 tỷ USD; ngược chiều với xuất siêu 20 tỷ USD.
Về dịch vụ, xuất khẩu tăng 20,5%, đạt 36,5 tỷ USD; nhập khẩu tăng 19,4%, đạt 48,4 tỷ USD, nhập siêu 12,9 tỷ USD, cao hơn mức 10,2 tỷ USD của năm 2025.
Theo đó, có thể có 2 dự báo về quan hệ so sánh giữa GDP sản xuất và GDP sử dụng như sau:
(1) Việt Nam có thể tiếp tục ở vị thế GDP sản xuất lớn hơn GDP sử dụng – tức là sản xuất không bị “thiếu hụt” so với GDP sử dụng như từ 2011 trở về trước.
Nhưng GDP sản xuất vượt GDP sử dụng có thể sẽ không còn vượt 2,1% như thời kỳ 2011-2016, thậm chí có thể còn không vượt 1,4% như thời kỳ 2016-2025. Nếu như vậy thì phải quan tâm đến những vấn đề đã đề cập ở trên nhất là: phát triển mạnh hơn công nghiệp phụ trợ; hạn chế tình trạng “gia công lắp ráp”, “ăn chơi sớm”, điều hành tốt hơn để sự chuyển động của dòng tiền tập trung hơn cho sản xuất, hạn chế bị “chôn” vào các kênh tiền ảo, vàng, bất động sản đang ở giữa chu kỳ 10 năm, sẽ tăng và đạt đỉnh mới vào 2030, 2032.
(2) Việt Nam có thể trở lại vị thế “thiếu hụt” khi GDP sản xuất thấp hơn GDP sử dụng, tuy mức thiếu hụt không lớn như thời kỳ trước 2010.
Mục tiêu của Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc rất nhiều, trong đó có mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng GDP ở mức hai chữ số và đưa GDP bình quân đầu người lên nhóm thu nhập cao vào năm 2045.
Để đạt được những mục tiêu này, không chỉ tốc độ tăng GDP sản xuất, mà cả tích lũy và tiêu dùng đều phải tăng cao. Điều đó đồng nghĩa với yêu cầu phải nâng cao quan hệ cân đối kinh tế cơ bản, tổng quát giữa GDP sản xuất và GDP sử dụng, với mức độ và chất lượng cao hơn so với giai đoạn 2011-2025...
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 35+36-2026 phát hành ngày 31/08/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây




