Xuất khẩu dầu qua eo biển Hormuz có thể sẽ không hồi phục được về mức trước chiến tranh
An Huy | 01/06/2026
Thị trường dầu lửa toàn cầu có thể sẽ phải đối mặt với một thực tế mới rằng xuất khẩu dầu từ Vùng Vịnh qua eo biển Hormuz sẽ không thể trở lại mức bình thường, ngay cả sau khi cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Iran kết thúc...

Nguyên nhân là các hãng vận tải biển sẽ phải cân nhắc rủi ro chiến sự có thể lại bất ngờ nổ ra ở khu vực nhiều căng thẳng này.
Ngoài ra, theo hãng tin CNBC, các tàu thương mại phương Tây sẽ ngại đi qua Hormuz nếu eo biển này còn chịu sự kiểm soát không chính thức của Iran, đặc biệt nếu các tàu phải hợp tác với lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) để đi qua, vì sự phối hợp như vậy có nguy cơ khiến các tàu vi phạm lệnh trừng phạt của Mỹ.
Đó là một kịch bản với những hệ quả khó lường, xét tới vai trò then chốt của eo Hormuz đối với thị trường năng lượng toàn cầu. Việc Iran đóng cửa eo biển này sau khi chiến tranh Mỹ - Iran nổ ra đã gây ra sự gián đoạn nguồn cung dầu lớn nhất trong lịch sử.
Tiến trình đàm phán hòa bình giữa Washington và Iran vẫn đang vướng mắc vì một số vấn đề, bao gồm việc Iran được muốn nắm quyền kiểm soát eo biển Hormuz như một điều kiện để kết thúc chiến tranh, trong khi Mỹ yêu cầu tuyến đường biển huyết mạch này phải được mở cửa hoàn toàn và ngay lập tức.
BÀI HỌC TỪ CUỘC KHỦNG HOẢNG Ở BIỂN ĐỎ
Trao đổi với CNBC, ông Amos Hochstein, người từng là cố vấn cấp cao về năng lượng và an ninh quốc gia của cựu Tổng thống Joe Biden, nói rằng các nhà lãnh đạo ở Trung Đông tin rằng Iran đã giành được quyền kiểm soát eo biển Hormuz rồi. “Cho dù điều gì xảy ra, Iran sẽ kiểm soát eo biển Hormuz trong tương lai gần. Cho dù thỏa thuận có là gì, các nước trong khu vực tin là như vậy”, ông nói.
Chiến lược gia trưởng Helima Croft của công ty RBC Capital Markets nhận định lưu lượng giao thông tàu chở dầu qua eo biển Hormuz trước chiến tranh khó có thể được thiết lập lại trong tương lai gần. “Chúng tôi cho rằng bất kỳ cái kết nào đối với cuộc xung đột này mà để Iran nắm quyền kiểm soát đối với eo biển Hormuz sẽ dẫn tới dòng chảy năng lượng thấp hơn nhiều qua tuyến đường này”, bà Croft nhận định trong một báo cáo.
Ông Richard Meade, Tổng biên tập trang Lloyd’s List, dự báo trong một kịch bản như vậy, dòng chảy dầu thô qua eo biển Hormuz chỉ phục hồi được tới mức tương đương 60-70% trước chiến tranh. Trong đó, các tàu liên quan tới Trung Quốc sẽ được di chuyển tự do, còn các tàu của phương Tây có thể sẽ phải dựa vào các thỏa thuận song phương với Iran để được đi qua eo biển Hormuz.
“Tình trạng đó sẽ không gây ra một cuộc suy thoái kinh tế như đã đề cập trong các kịch bản xấu nhất mà chúng ta nói tới trước đây, nhưng sự phục hồi của dòng chảy năng lượng về mức trước chiến tranh cũng là điều không thể. Kết quả sẽ là một thứ gì đó âm thầm hơn, một eo biển bị chi phối bởi yếu tố địa chính trị thay vì tự do hàng hải”, ông Meade nhận định.
Cuộc khủng hoảng ở Biển Đỏ đã cho thấy bất ổn địa chính trị có thể gây gián đoạn thương mại ở các điểm nghẽn lâu hơn nhiều so với những gì được kỳ vọng ban đầu. Phản ứng với cuộc chiến tranh của Israel ở dải Gaza, phiến quân Houthi ở Yemen - lực lượng được Iran hậu thuẫn - đã bắt đầu tấn công tàu bè thương mại đi qua Biển Đỏ vào tháng 11/2023.
Trong thời gian từ ngày 19/11/2023 đến ngày 30/1/2024, lưu lượng tàu đi qua eo biển Bab el-Mandeb nối giữ Biển Đỏ với Vịnh Aden đã giảm hơn một nửa xuống còn 75 tàu. Hơn 2 năm sau, lưu lượng tàu qua eo biển này vẫn chưa trở lại mức được coi là bình thường.
Nhà phân tích rủi ro hàng hải Tomer Raanan của Lloyd’s List cho rằng một trong những bài học lớn rút ra từ cuộc khủng hoảng Biển Đỏ là “không cần phải có một lực lượng hải quân hùng mạnh để gây ra sự gián đoạn lớn ở một điểm nghẽn hàng hải”.
Ông Jack Kennedy, trưởng bộ phận rủi ro quốc gia Trung Đông tại công ty S&P Global Market Intelligence chỉ ra rằng Houthi đã không còn tấn công tàu bè ở Biển Đỏ kể từ cuối năm ngoái, nhưng điều đó vẫn chưa đủ để lưu lượng tàu bè đi qua tuyến đường này phục hồi về mức của năm 2023.
Theo chuyên gia này, ngay cả khi Iran đồng ý mở lại eo biển Hormuz mà không có bất kỳ hạn chế nào, có thể sẽ mất nhiều thời gian để giao thông qua eo biển này trở lại mức trước chiến tranh, do còn những mối lo ngại về an toàn liên quan tới số mìn có thể đã được rải ở eo biển này.
Chưa kể, còn có rủi ro chiến sự bùng nổ trở lại trừ phi các bên đạt một giải pháp lâu dài về chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Iran - ông Kennedy nhấn mạnh, cho rằng các hãng vận tải biển sẽ phải cân nhắc xem liệu họ có sẵn sàng chấp nhận rủi ro tàu bè và tài sản của họ bị mắc kẹt ở Hormuz hàng tháng trời nếu chiến sự trở lại.
KHÔNG CÓ PHƯƠNG ÁN THAY THẾ HOÀN TOÀN NÀO CHO EO BIỂN HORMUZ
Tuy nhiên, ông Raanan và ông Kennedy cũng nói rằng Biển Đỏ có sự khác biệt lớn so với eo biển Hormuz. Một trong những lý do khiến giao thông qua Biển Đỏ vẫn còn ở mức thấp là tàu bè có thể tránh đi qua tuyến đường này để tránh rủi ro an ninh bằng cách đi đường vòng qua Mũi Hảo Vọng ở châu Phi. Trong khi đó, eo biển Hormuz là một điểm nghẽn thực sự không có bất kỳ một sự thay thế tương đương nào.
Hai vị chuyên gia lưu ý rằng đối với thị trường năng lượng toàn cầu, eo biển Hormuz quan trọng hơn nhiều so với Biển Đỏ. Trước chiến tranh, khoảng 20% nguồn cung dầu và khí đốt tự nhiên hóa lỏng của thế giới đi qua Hormuz mỗi ngày.
Saudi Arabia và Các tiểu vương quốc Arab thống (UAE) nhất đang sử dụng đường ống để chuyển hướng hàng triệu thùng dầu mỗi ngày từ Vịnh Ba Tư đến các cảng xuất khẩu trên Biển Đỏ và Vịnh Oman. Những đường ống này đã giảm bớt nhưng không hoàn toàn bù đắp được sự gián đoạn nguồn cung do bế tắc ở eo biển Hormuz
Ông Raanan nói: “Có thể vận chuyển một số thứ qua đường ống, nhưng không phải mọi thứ đều có thể đi qua đường ống. Chúng ta không chỉ nói về dầu mỏ cần được vận chuyển qua Hormuz”.
Ngoài dầu mỏ, Hormuz còn là tuyến đường huyết mạch của hoạt động vận chuyển khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG), phân bón và các mặt hàng khác - những thứ chỉ có thể vận chuyển bằng cách chất lên tàu. Trong trường hợp không có lựa chọn thay thế, các nhà vận chuyển có thể phải chấp nhận và thích nghi với các điều kiện ở Hormuz theo những cách mà họ không làm ở Biển Đỏ.
Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu ở Trung Đông vẫn đang tìm kiếm thêm các lựa chọn thay thế. Ví dụ, UAE đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng đường ống dẫn khí thứ hai để tránh eo biển Hormuz. Theo dự kiến, đường ống này sẽ đi vào hoạt động năm 2027.
Bộ trưởng Năng lượng Mỹ Chris Wright tin rằng tầm quan trọng của eo biển Hormuz đối với thị trường năng lượng toàn cầu sẽ giảm sau chiến tranh, khi các quốc gia Vùng Vịnh như UAE xây dựng thêm nhiều đường ống dẫn khí để tránh eo biển này.
“Đây là một quân bài chỉ có thể chơi một lần. Sẽ có những tuyến đường khác để vận chuyển năng lượng ra khỏi Vịnh Ba Tư”, ông Wright nói về lệnh phong tỏa của Iran.
“Chúng ta sẽ thấy tầm quan trọng của eo biển Hormuz giảm đi, nhưng tầm quan trọng của sản lượng và nguồn cung năng lượng của các quốc gia đó thì không giảm đi,” ông nhấn mạnh.
Theo Vneconomy




