World Bank đề xuất giải pháp để chính sách thành kết quả thực chất
Tuấn Khang | 03/10/2026
Đại diện World Bank cho rằng bước đột phá tiếp theo của Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào quy mô đầu tư, mà quan trọng hơn là năng lực triển khai cải cách hiệu quả và biến những thay đổi chính sách thành đời sống tốt hơn cho người dân...

Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mới thường niên 2026 tại Hà Nội, bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và CHDCND Lào, cho rằng Việt Nam đang đứng trước một thời khắc mang tính bước ngoặt khi Nghị quyết 19 - NQ/TW được thông qua vào tháng 7/2026.
Theo bà, Nghị quyết 19 đã xác lập một mô hình phát triển mới, chuyển từ tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng vốn và lao động sang tăng trưởng dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
“Định hướng đã rõ ràng và hoàn toàn đúng đắn”, bà nói, đồng thời đặt ra vấn đề làm thế nào để những chính sách đột phá mang lại kết quả mà doanh nghiệp, địa phương và người dân có thể thấy rõ trong thực tế.
Bà Mariam J. Sherman cho rằng Việt Nam bước vào giai đoạn mới từ một vị thế vững mạnh, với ổn định kinh tế vĩ mô, mức độ hội nhập sâu rộng vào thương mại toàn cầu, lực lượng lao động trẻ, có kỹ năng và bề dày cải cách. Bên cạnh đó, một thập kỷ điều hành ngân sách thận trọng đã giúp duy trì nợ công ở mức thấp, tạo thêm dư địa cho đầu tư.
Đây là thời điểm Việt Nam có thể đẩy mạnh đầu tư cho phát triển. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy những quốc gia thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình không nhất thiết là những nước đầu tư nhiều nhất. Điều quan trọng hơn là đầu tư hiệu quả, đồng thời xây dựng được thể chế và thị trường có khả năng duy trì đầu tư và đổi mới sáng tạo về lâu dài.
Từ cách tiếp cận này, bà Mariam J. Sherman tập trung vào ba nhóm vấn đề gồm thể chế, chính sách đột phá và nguồn lực tài chính.
THỂ CHẾ CẦN CHUYỂN TỪ QUẢN LÝ ĐẦU VÀO SANG MANG LẠI KẾT QUẢ
Thông điệp đầu tiên được bà Mariam J. Sherman đưa ra là các thể chế cần chuyển trọng tâm từ kiểm soát đầu vào sang đánh giá kết quả.
Nghị quyết 19 thể hiện rõ sự chuyển đổi này khi yêu cầu chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị phát triển, từ tiền kiểm sang hậu kiểm thông minh.
Trong thực tế, có thể bắt đầu từ ba việc.
Thứ nhất là lấy kết quả làm thước đo trong toàn bộ khu vực công. Với đầu tư công, giáo dục, y tế hay quản lý nhà nước, vấn đề không chỉ là thủ tục đã đúng hay ngân sách đã được giải ngân, mà còn là người dân và doanh nghiệp nhận được gì.
“Con đường mới có giúp rút ngắn thời gian đi lại không? Trường học có giúp học sinh học tốt hơn không? Quy định mới có giúp doanh nghiệp dễ thành lập và phát triển hơn không?”, bà đặt vấn đề.
Khi kết quả được đo lường và gắn với trách nhiệm của từng cơ quan, từng người, cùng với sự hỗ trợ của dữ liệu tốt hơn và chính phủ số, cách làm việc trong cả hệ thống sẽ thay đổi.
Thứ hai là bảo đảm các quy định rõ ràng, ổn định và được áp dụng nhất quán. Doanh nghiệp và nhà đầu tư cần một môi trường pháp lý công bằng, có thể dự liệu, với ít thủ tục phê duyệt trước hơn và giám sát chặt hơn ở những nơi có rủi ro cao.
Khu vực công cũng cần tuân theo nguyên tắc này. Chẳng hạn, nếu dự án đầu tư công được lựa chọn kỹ trước khi bố trí vốn và được tính đúng, tính đủ chi phí, bao gồm cả chi phí vận hành và bảo trì, thì khả năng hoàn thành đúng mục tiêu sẽ cao hơn.
Thứ ba là trao cho địa phương và đội ngũ cán bộ, công chức, cả thẩm quyền lẫn trách nhiệm giải trình. Các tỉnh hiện có quy mô lớn hơn, đồng thời gánh vác nhiều trách nhiệm hơn đối với dịch vụ công, cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh địa phương. Theo bà, các địa phương sẽ là những động lực của mô hình tăng trưởng mới.
Để phân cấp phát huy hiệu quả mà không dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm, cần giao việc rõ ràng, bảo đảm nguồn lực ổn định và công khai kết quả thực hiện. Cùng với đó là một đội ngũ công chức chuyên nghiệp, được đào tạo và đãi ngộ xứng đáng.
Bà Mariam J. Sherman cho rằng cải cách thể chế đôi khi bị xem là việc có thể làm sau, trong khi đây là một trong những cách thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ nhất, bởi thể chế tốt giúp mọi khoản đầu tư phát huy hiệu quả hơn.
Bà dẫn một ước tính cho rằng nếu hiệu quả chi đầu tư của Việt Nam đạt mức bình quân của các nước ASEAN-5, tăng trưởng có thể tăng thêm tương đương 1 điểm phần trăm GDP mỗi năm mà không cần đầu tư thêm. “Không ngừng nâng cao chất lượng thể chế là yếu tố cốt lõi để trở thành một nền kinh tế thu nhập cao”, bà nói.
ĐỒNG BỘ CƠ CHẾ KHUYẾN KHÍCH VÀ ĐA DẠNG HOÁ NGUỒN VỐN
Thông điệp thứ hai liên quan đến các chính sách đột phá. Bà Mariam J. Sherman cho rằng những chính sách mạnh mẽ nhất là các chính sách đồng bộ các cơ chế khuyến khích, để đầu tư công, doanh nghiệp tư nhân và nguồn thu ngân sách củng cố lẫn nhau.
Thương mại và du lịch, hai động lực được diễn đàn nhấn mạnh, là những ví dụ rõ ràng. Chi phí logistics của Việt Nam vẫn ở mức cao so với mặt bằng khu vực. Các tuyến cao tốc, cảng biển và đường sắt mới có thể giúp giảm chi phí, mở ra thị trường mới cho doanh nghiệp trong nước và giúp du khách đến được nhiều điểm đến hơn.
Nhưng hạ tầng thôi chưa đủ. Doanh nghiệp còn cần một môi trường thuận lợi để thành lập, vận hành và mở rộng quy mô. Việc tiếp tục cắt giảm các yêu cầu về giấy phép, chuyển sang thanh tra theo mức độ rủi ro và số hóa dịch vụ công sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng cơ hội từ hạ tầng mới.

Cơ chế khuyến khích cũng đặc biệt quan trọng đối với nguồn thu ngân sách. Khi các hành lang giao thông mới làm tăng giá trị đất đai xung quanh, Nhà nước cần thu lại một phần giá trị gia tăng đó để bảo trì công trình, đầu tư cho giai đoạn tiếp theo và cung cấp dịch vụ cho cộng đồng.
Một hệ thống thu ngân sách tăng trưởng cùng nền kinh tế, bảo đảm công bằng và khuyến khích doanh nghiệp gia nhập khu vực chính thức, theo bà, tự thân đã là một chính sách đột phá. Hệ thống này giúp duy trì các chương trình đầu tư đầy tham vọng một cách bền vững.
Thông điệp thứ ba được bà Mariam J. Sherman đưa ra liên quan đến huy động nguồn lực tài chính. Bà Mariam J.Sherman dẫn số liệu kế hoạch đầu tư giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, ở mức 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 1,45 nghìn tỷ USD, trong đó 80% dự kiến đến từ khu vực tư nhân.
“Nguồn lực công không thể đáp ứng nhu cầu này một mình”, bà nói. Hệ thống ngân hàng cũng không nên phải gánh vác phần lớn trách nhiệm, bởi cơ sở hạ tầng có vòng đời dài cần nguồn tài chính dài hạn. Nếu vốn ngân hàng tập trung quá nhiều vào hạ tầng, doanh nghiệp có thể khó tiếp cận tín dụng để phát triển.
Một hướng đi được bà đề cập là phát triển thị trường trái phiếu trong nước theo chiều sâu. Quy mô thị trường hiện vẫn nhỏ so với các nước trong khu vực như Thái Lan và Malaysia, đồng thời cần mở rộng cơ sở nhà đầu tư, thay vì chỉ giới hạn ở các ngân hàng và công ty bảo hiểm trong nước.
Một hướng khác là xây dựng chính sách hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, phù hợp với kế hoạch của Chính phủ đến năm 2030. Việc nâng hạng tín nhiệm sẽ giúp giảm chi phí vay không chỉ cho Nhà nước mà cả những doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín nhiệm quốc gia.
Bên cạnh đó, bà cho rằng tài chính luôn đi cùng rủi ro. Khi Nhà nước nhận thêm các cam kết mới, việc đo lường và giám sát rủi ro một cách minh bạch sẽ giúp kiểm soát rủi ro hiệu quả hơn, đồng thời có thể góp phần giảm chi phí vay nếu xếp hạng tín nhiệm được cải thiện.
Đầu tư công cũng cần mở đường để thu hút nguồn lực tư nhân. Bà dẫn Nghị quyết 68 - NQ/TW và cho rằng nhu cầu hạ tầng của Việt Nam trong những thập kỷ tới sẽ ngày càng phụ thuộc vào vốn tư nhân.
Hiện nay, các nhà đầu tư tư nhân vẫn gặp những trở ngại cụ thể. Doanh thu của nhiều dự án khó dự tính, công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá còn hạn chế và các điều khoản hợp đồng chưa đủ ổn định để họ yên tâm đầu tư.
Các dự án cũng có thể gặp khoảng trống tài chính mà hình thức cho vay ngân hàng truyền thống chưa phù hợp để xử lý, chẳng hạn yêu cầu về kỳ hạn vay dài và quy mô vốn lớn.
Theo đó, các giải pháp kết hợp nhiều nguồn vốn có thể được sử dụng. Vốn nhà nước, vốn vay ưu đãi và vốn tư nhân có thể được đưa vào một cơ chế chung để tài trợ hạ tầng, với quy định rõ ràng, quản lý chuyên nghiệp và thông tin minh bạch.
Cơ chế này có thể cung cấp nguồn tài chính dài hạn bằng nội tệ mà các ngân hàng khó đáp ứng; cung cấp bảo lãnh và các công cụ tăng cường tín dụng để xử lý những rủi ro cụ thể, qua đó giúp các dự án được chuẩn bị tốt có khả năng huy động vốn.
Đồng thời, cơ chế này có thể hỗ trợ công tác chuẩn bị dự án để các bộ, ngành và địa phương xây dựng danh mục dự án sẵn sàng thu hút đầu tư.
“Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nếu được quản lý chặt chẽ, những cơ chế như vậy có thể thu hút nguồn vốn tư nhân ở quy mô lớn”, bà Mariam J. Sherman nhận định.
Theo Vneconomy




