Số liệu tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 của Cục Thống kê
NSO | 03/05/2026
Sản xuất nông nghiệp tháng Tư tập trung chủ yếu vào chăm sóc cây trồng vụ đông xuân ở các địa phương phía Bắc; thu hoạch cây trồng vụ đông xuân và xuống giống vụ lúa hè thu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Chăn nuôi lợn và gia cầm tiếp tục phát triển ổn định với nhiều mô hình chăn nuôi quy mô lớn, ứng dụng an toàn sinh học.
.jpg)




1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
a) Nông nghiệp
– Lúa đông xuân: Tính đến ngày 20/4/2026, cả nước gieo cấy được 2.932,9 nghìn ha lúa đông xuân, giảm 36,8 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước, trong đó miền Bắc gieo cấy 1.037,5 nghìn ha, giảm 12,9 nghìn ha; miền Nam gieo cấy 1.895,4 nghìn ha, giảm 23,9 nghìn ha. Tại miền Nam, các địa phương đã thu hoạch được 1.486,0 nghìn ha lúa đông xuân, chiếm 78,4% diện tích xuống giống và bằng 92,2% cùng kỳ năm trước; riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch được 1.119,9 nghìn ha, chiếm 90,3% và bằng 90,7%.
– Lúa hè thu: Tính đến ngày 20/4/2026, miền Nam gieo sạ được 355,5 nghìn ha lúa hè thu, bằng 50,9% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 272,3 nghìn ha, bằng 44,2%.
– Cây hàng năm: Diện tích một số cây như ngô, lạc, khoai lang tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao.
– Chăn nuôi: Chăn nuôi trâu, bò giảm do hiệu quả kinh tế thấp, chu kỳ nuôi kéo dài, không kích thích người chăn nuôi tái đàn. Chăn nuôi gia cầm duy trì đà tăng trưởng ổn định; chăn nuôi lợn tiếp tục phục hồi.
b) Lâm nghiệp
Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, diện tích rừng trồng mới cả nước ước đạt 78,5 nghìn ha, giảm 1,0% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 27,6 triệu cây, tăng 0,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 6.021,9 nghìn m3, tăng 2,4%. Diện tích rừng bị thiệt hại là 142,0 ha, giảm 70,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 13,7 ha, giảm 83,3%; diện tích rừng bị chặt, phá là 128,3 ha, giảm 67,4%.
c) Thủy sản
Sản lượng thủy sản tháng Tư ước đạt 831,7 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 471,6 nghìn tấn, tăng 4,8%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 360,1 nghìn tấn, tăng 0,2%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 3.041,9 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.780,3 nghìn tấn, tăng 5,2%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 1.261,6 nghìn tấn, tăng 0,1%.
2. Sản xuất công nghiệp
– Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Tư ước tăng 3,0% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,9%, đóng góp 7,8 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,5%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 4,0%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm.
– Chỉ số sản xuất công nghiệp bốn tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương.
– Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/4/2026 tăng 1,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,6% so với cùng thời điểm năm trước.
3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
– Trong tháng Tư, cả nước có gần 20,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 7,1% so với tháng trước và tăng 33,9% so với cùng kỳ năm trước; gần 9,5 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 19,8% và tăng 5,1%; 8.863 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 75,2% và tăng 23,4%; 5.388 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 14,5% và giảm 40,1%; 3.473 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 9,0% và tăng 98,5%.
– Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, cả nước có hơn 119,4 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 29,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 108,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 27,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong bốn tháng năm 2026 là gần 1,9 triệu tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2025.
4. Đầu tư
– Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Tư ước đạt gần 54,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 187,1 nghìn tỷ đồng, bằng 19,7% kế hoạch năm và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 bằng 16,7% và tăng 20,5%).
– Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 27/4/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 18,24 tỷ USD, tăng 32,0% so với cùng kỳ năm trước.
– Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 7,40 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước.
– Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong bốn tháng đầu năm 2026 có 74 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 691,1 triệu USD, gấp 2,6 lần cùng kỳ năm trước; có 4 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 22,8 triệu USD, giảm 43,2%. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 713,9 triệu USD, gấp 2,3 lần cùng kỳ năm trước.
5. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Tư ước đạt 257,2 nghìn tỷ đồng; lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.114,0 nghìn tỷ đồng, bằng 44,0% dự toán năm và tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Tư ước đạt 143,9 nghìn tỷ đồng; lũy kế bốn tháng đầu năm 2026 ước đạt 668,2 nghìn tỷ đồng, bằng 21,2% dự toán năm và tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước.
6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Tư ước đạt 646,3 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 2.546,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,3%.
b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[1]
Trong tháng Tư, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa[2] ước đạt 94,32 tỷ USD, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 26,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,7%; nhập khẩu tăng 28,7%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 7,11 tỷ USD.
– Xuất khẩu hàng hóa
+ Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Tư ước đạt 45,52 tỷ USD, giảm 2,0% so với tháng trước và tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 168,53 tỷ USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 33,65 tỷ USD, tăng 0,4%, chiếm 20,0% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 134,88 tỷ USD, tăng 25,8%, chiếm 80,0%.
+ Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu bốn tháng đầu năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 151,5 tỷ USD, chiếm 89,9%.
– Nhập khẩu hàng hóa
+ Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Tư ước đạt 48,8 tỷ USD, tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 32,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 175,64 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 49,27 tỷ USD, tăng 20,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 126,37 tỷ USD, tăng 32,3%.
+ Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu bốn tháng đầu năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước đạt 165,37 tỷ USD, chiếm 94,2%.
– Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa bốn tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 53,9 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 69,0 tỷ USD.
– Cán cân thương mại hàng hóa tháng Tư ước nhập siêu 3,28 tỷ USD. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa ước nhập siêu 7,11 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 4,3 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 15,61 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 8,5 tỷ USD.
c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
– Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tư tăng 0,84% so với tháng trước; tăng 3,31% so với tháng 12/2025 và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân bốn tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,99% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,89%.
– Chỉ số giá vàng tháng Tư giảm 6,71% so với tháng trước; tăng 54,24% so với cùng kỳ năm trước; tăng 10,83% so với tháng 12/2025; bình quân bốn tháng đầu năm 2026 tăng 75,13% so với cùng kỳ năm trước.
– Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Tư tăng 0,17% so với tháng trước; tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,31% so với tháng 12/2025; bình quân bốn tháng đầu năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,29% so với cùng kỳ năm trước.
d) Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách tháng Tư ước đạt 509,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 5,6% so với tháng trước và luân chuyển 28,4 tỷ lượt khách.km, tăng 4,8%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 2.102,3 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 113,2 tỷ lượt khách.km, tăng 12,7%.
Vận tải hàng hóa tháng Tư ước đạt 274,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,4% so với tháng trước và luân chuyển 53,3 tỷ tấn.km, tăng 2,3%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 1.082,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 208,2 tỷ tấn.km, tăng 10,2%.
đ) Khách quốc tế đến Việt Nam
Trong tháng Tư, khách quốc tế đến nước ta đạt 2,03 triệu lượt người, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 8,8 triệu lượt người, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất của bốn tháng đầu năm các năm từ trước đến nay.
7. Một số tình hình xã hội
– Theo kết quả sơ bộ Điều tra lao động việc làm, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng Tư không thay đổi và tăng lên so với cùng kỳ năm trước là 96,0%; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 4,0%. Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp, các ngành thực hiện kịp thời nhằm mục đích hỗ trợ đời sống Nhân dân. Tính từ đầu năm đến ngày 25/04/2026, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân 15,3 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ 5,6 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 372,9 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 604 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 40,3 nghìn nhân khẩu.
Về hỗ trợ các đối tượng chính sách, người có công nhân dịp lễ 30/4, ngày 22/4/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công văn số 431/TTg-KGVX về việc tiếp tục chăm lo đời sống người có công nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ.
– Trong bốn tháng đầu năm 2026, cả nước có gần 45,0 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (05 trường hợp tử vong); 34,4 nghìn trường hợp mắc tay chân miệng (08 trường hợp tử vong); 3.127 trường hợp sốt phát ban nghi sởi; 106 trường hợp viêm não vi rút (01 trường hợp tử vong); 26 trường hợp viêm màng não do não mô cầu (04 trường hợp tử vong); 20 người tử vong do bệnh dại.
– Về văn hóa, trong tháng Tư diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi kỷ niệm các sự kiện lớn của đất nước như Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Giỗ Tổ Hùng Vương, Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Ngày Quốc tế Lao động; nổi bật là các lễ hội, triển lãm, chương trình nghệ thuật tại Hà Nội, Phú Thọ, Cần Thơ…
Về thể thao quần chúng, phong trào thể dục, thể thao diễn ra rộng khắp, gắn với các sự kiện lớn, tiêu biểu là các giải chạy marathon tại Hà Nội, Đà Nẵng, Huế và các hoạt động thể thao phong trào trên cả nước; các hình thức chạy trực tuyến tiếp tục thu hút đông đảo người dân tham gia.
Về thể thao thành tích cao, nhiều giải đấu cấp quốc gia được tổ chức như giải Kickboxing, Đá cầu và đua xe đạp Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh, góp phần thúc đẩy phong trào thi đấu và nâng cao thành tích thể thao.
– Trong tháng Tư (từ 15/03-14/04/2026), cả nước xảy ra 1.199 vụ tai nạn giao thông, làm chết 754 người và bị thương 682 người. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 5.278 vụ tai nạn giao thông, làm chết 3.259 người và bị thương 3.118 người. Bình quân một ngày trong bốn tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 44 vụ tai nạn giao thông, làm chết 27 người, bị thương 26 người.
– Thiệt hại do thiên tai trong tháng Tư chủ yếu do ảnh hưởng của mưa lốc, giông sét. Tính chung bốn tháng đầu năm nay, thiên tai làm 06 người chết, 26 người bị thương; 9,1 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hại; 2.439 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hại; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 496,9 tỷ đồng, gấp 3,7 cùng kỳ năm 2025.
– Trong tháng Tư (từ 26/03-23/04/2026), các cơ quan chức năng phát hiện 853 vụ vi phạm môi trường tại 33/34 địa phương. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, các cơ quan chức năng phát hiện 6.444 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 5.633 vụ với tổng số tiền phạt 108,7 tỷ đồng, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm trước.
– Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.006 vụ cháy, nổ, làm 41 người chết và 49 người bị thương, thiệt hại ước tính 280,7 tỷ đồng, tăng 26,2% so với cùng kỳ năm trước./.



.jpg)
