Số liệu tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2026 của Cục Thống kê

NSO.gov.vn | 03/07/2026

Trong sáu tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, khó dự đoán. Trong bối cảnh đó, nhiều tổ chức quốc tế điều chỉnh giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026 so với dự báo đưa ra trước đó.

Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội Quý II và sáu tháng đầu năm 2026

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước[1]. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,06%, đóng góp 5,65% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,51%, đóng góp 50,07%; khu vực dịch vụ tăng 7,87%, đóng góp 44,28%.

GDP sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,63%). Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20%; khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đồng thời thị trường xuất khẩu nông sản tiếp tục được mở rộng. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,83% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,98%, đóng góp 0,27%; ngành thủy sản tăng 4,88%, đóng góp 1,56%.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng tích cực nhờ các động lực tăng trưởng được củng cố, sự phục hồi đơn hàng xuất khẩu và hiệu ứng lan tỏa tích cực của đầu tư công. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 tăng 9,86% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 40,35% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 10,23%, đóng góp 33,07%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,34%, đóng góp 5,14%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,72%, đóng góp 0,54%; ngành khai khoáng tăng 6,67%, đóng góp 1,60%. Ngành xây dựng tăng 9,51%, đóng góp 6,85%.

Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch đạt mức tăng trưởng khá nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng cao, hoạt động lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân sôi động, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,09% so với cùng kỳ năm trước. Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như sau: Ngành vận tải, kho bãi tăng 10,18% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 7,73%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,67%, đóng góp 13,51%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%, đóng góp 2,73%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,97%, đóng góp 4,71%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 8,99%, đóng góp 1,81%.

Về cơ cấu nền kinh tế sáu tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,61%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,66%; khu vực dịch vụ chiếm 43,52%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,21% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là 11,28%; 36,82%; 43,59%; 8,31%).

Về sử dụng GDP sáu tháng đầu năm 2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,15% so với cùng kỳ năm 2025, tích lũy tài sản tăng 15,20%, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 20,18%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 26,44%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Lúa đông xuân: Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm 2026 đạt 2.932,1 nghìn ha, giảm 37,7 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước; năng suất ước đạt 69,8 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha; sản lượng đạt 20,5 triệu tấn, tăng 88,1 nghìn tấn.

Lúa hè thu: Tính đến ngày 20/6/2026, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1.712,2  nghìn ha lúa hè thu, bằng 95,7% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.144,1 nghìn ha, bằng 94,4%.

Cây hằng năm: Cùng với gieo cấy lúa, các địa phương trên cả nước tiến hành gieo trồng cây hoa màu. Trong đó, diện tích một số cây như ngô, lạc, rau các loại giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao.

Cây lâu năm: Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 3.847,1 nghìn ha, tăng 22,5 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhóm cây ăn quả đạt 1.312,0 nghìn ha, tăng 10,5 nghìn ha; nhóm cây công nghiệp đạt 2.191,0 nghìn ha, tăng 6,0 nghìn ha.

Chăn nuôi: Đàn lợn và gia cầm phát triển ổn định. Đàn trâu, bò trong tháng có xu hướng giảm. Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Sáu tăng 2,2% so với cùng thời điểm năm 2025; tổng số gia cầm tăng 3,1%; tổng số bò giảm 2,8%; tổng số trâu giảm 6,6%.

b) Lâm nghiệp

Trong quý II/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 99,7 nghìn ha, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng bị thiệt hại là 284,9 ha, giảm 54,9%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 145,7 nghìn ha, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng bị thiệt hại là 347,0 ha rừng bị thiệt hại, giảm 59,1%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý II/2026 ước đạt 2.739,9 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 4.954,2 nghìn tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 2.993,1 nghìn tấn, tăng 5,7%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 1.961,1 nghìn tấn, tăng 0,6%.

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý II/2026 ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,7%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,5%), đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,9% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5,8% (cùng kỳ năm 2025 giảm 3,5%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm.

Chỉ số sản xuất công nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2026 tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,8%).

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2026 tăng 5,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,3% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân sáu tháng đầu năm 2026 là 82,2% (bình quân cùng kỳ năm 2025 là 85,7%).

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/6/2026 tăng 1,0% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm trước.

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

 Trong tháng Sáu, cả nước có hơn 16,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 1,1% so với tháng trước và giảm 31,0% so với cùng kỳ năm trước; 13,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 49,5% và giảm 5,4%; 7.245 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 7,4%  và tăng 12,6%; 9.989 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 23,6% và giảm 0,7%; 4.959 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 29,4% và tăng 79,6%.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, cả nước có 169,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 11,2%  so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 28,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 151,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có gần 25,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2026 cho thấy: Có 36,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý I/2026; dự kiến quý III/2026, có 39,4% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý II/2026.

5. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Sáu ước đạt 665,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026 ước đạt 1.977,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với quý trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 3.889,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,3% (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,4%).

Vận tải hành khách tháng Sáu ước đạt 618,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 29,4 tỷ lượt khách.km, tăng 10,0%; quý II/2026 ước đạt 1.810,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 23,2% và luân chuyển đạt 86,0 tỷ lượt khách.km, tăng 12,6%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 3.403,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 170,7 tỷ lượt khách.km, tăng 12,2%.

Vận tải hàng hóa tháng Sáu ước đạt 272,1 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 55,7 tỷ tấn.km, tăng 6,0%; quý II/2026 ước đạt 810,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 12,1% và luân chuyển 166,3 tỷ tấn.km, tăng 9,9%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 1.619,4 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 321,2 tỷ tấn.km, tăng 10,0%.

­­­­Doanh thu hoạt động viễn thông quý II/2026 ước đạt 102,9 nghìn tỷ đồng, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, d­­oanh thu hoạt động viễn thông 205,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,9%).

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng Sáu đạt 1,68 triệu lượt người, giảm 5,7% so với tháng trước và tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước, quý II năm 2026 ước đạt 5,49 triệu lượt khách, tăng 18,2%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt gần 12,3 triệu lượt người, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước.

Số lượt người Việt Nam xuất cảnh  trong quý II/2026 là 1,5 triệu lượt người, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, số lượt người Việt Nam xuất cảnh đạt 2,7 triệu lượt người, giảm 33,9% so với cùng kỳ năm trước.

6. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán

Tính đến thời điểm 26/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,02% (cùng thời điểm năm trước tăng 6,11%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 7,41% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,3%).

Thị trường bảo hiểm duy trì đà tăng trưởng ổn định. Tổng doanh thu phí bảo hiểm quý II/2026 ước đạt 60,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 117,9 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2%.

Tính từ đầu năm đến nay, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt 29.314,7 tỷ đồng/phiên, tương đương với bình quân năm 2025; giá trị giao dịch bình quân trên thị trường trái phiếu đạt 17.072 tỷ đồng/phiên, tăng 11,5%; trên thị trường chứng khoán phái sinh, khối lượng giao dịch bình quân đạt 241.454 hợp đồng/phiên, tương đương với bình quân năm 2025.

7. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý II/2026 theo giá hiện hành ước đạt 1.059,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội sáu tháng đầu năm theo giá hiện hành ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 30/6/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61,0% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong sáu tháng đầu năm 2026 có 94 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 820,3 triệu USD, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm trước; có 15 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 388,9 triệu USD, gấp 3 lần. Tính chung sáu tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 1,21 tỷ USD, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước.

8. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Sáu ước đạt 205,0 nghìn tỷ đồng, lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước sáu tháng đầu năm 2026 đạt 1.568,2 nghìn tỷ đồng, bằng 62,0% dự toán năm và tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Sáu ước đạt 292,3 nghìn tỷ đồng, lũy kế sáu tháng đầu năm 2026 đạt 1.149,1 nghìn tỷ đồng, bằng 36,4% dự toán năm và tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước.

9. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ[2]

a) Xuất nhập khẩu hàng hóa[3]

Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Sáu đạt 50,79 tỷ USD, tăng 8,2% so với tháng trước và tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý II/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 143,6 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 16,8% so với quý I/2026. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 53,51 tỷ USD, tăng 4,6%, chiếm 20,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 213,01 tỷ USD, tăng 26,0%, chiếm 79,9%.

Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Sáu đạt 53,43 tỷ USD, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 45,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý II/2026, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 156,6  tỷ USD, tăng 39,1% so với cùng kỳ năm trước và tăng 23,7% so với quý I/2026. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 283,17 tỷ USD, tăng 33,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 78,46 tỷ USD, tăng 24,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 204,71 tỷ USD, tăng 37,3%.

Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa sáu tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 86,5 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 115,2 tỷ USD.

Cán cân thương mại hàng hóa tháng Sáu nhập siêu 2,64 tỷ USD. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa ước nhập siêu 16,65 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 7,95 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 24,95 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 8,3 tỷ USD.

b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong quý II/2026, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 8,24 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước và giảm 10,3% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 11,81 tỷ USD, tăng 17,4% và tăng 5,9%.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 17,42 tỷ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 9,0 tỷ USD (chiếm 51,7% tổng kim ngạch), tăng 18,1%; dịch vụ vận tải đạt 5,1 tỷ USD (chiếm 29,3%), tăng 34,0%.

Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 22,96 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 8,97 tỷ USD), tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 10,25 tỷ USD (chiếm 44,6% tổng kim ngạch), tăng 32,2%; dịch vụ du lịch đạt 8,05 tỷ USD (chiếm 35,1%), tăng 12,7%.

Nhập siêu dịch vụ sáu tháng đầu năm 2026 là 5,54 tỷ USD.

10. Chỉ số giá

a) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Sáu giảm 0,39% so với tháng trước; tăng 3,21% so với tháng 12/2024 và tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với quý II/2025. Bình quân sáu tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,12%.

Chỉ số giá vàng tháng Sáu giảm 8,46% so với tháng Năm; tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước; giảm 2,72% so với tháng 12/2025; bình quân quý II/2026 tăng 36,84% so với cùng kỳ năm trước; bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 58,12%.

Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Sáu tăng 0,11% so với tháng trước; tăng 0,57% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,17% so với tháng 12/2025; bình quân quý II/2026 tăng 0,93%; bình quân sáu tháng đầu năm 2026 tăng 1,75%.

b) Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất; chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất và chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa quý II và sáu tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản sáu tháng đầu năm 2026 tăng 4,07% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,18%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 4,17%; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,40%; chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 0,68%; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 0,92%.

11. Một số tình hình xã hội

a) Lao động và việc làm

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý II/2026 ước tính là 53,8 triệu người, tăng 175,6 nghìn người so với quý trước và tăng 693,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,7 triệu người, tăng 690,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ sáu tháng đầu năm 2026 là 29,7%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so cùng kỳ năm trước, điều này cho thấy chất lượng nguồn lao động đang dần được nâng cao.

Lao động có việc làm quý II/2026 ước tính là 52,7 triệu người, tăng 170,2 nghìn người so với quý trước và tăng 688,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, lao động có việc làm là 52,6 triệu người, tăng 672,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý II/2026 là 1,62%, thấp hơn 0,05 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 0,11 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,65%, thấp hơn 0,07 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,24%; khu vực nông thôn là 1,92%.

Thu nhập bình quân của người lao động quý II/2026 là gần 9,0 triệu đồng/tháng, giảm 53 nghìn đồng so với quý I/2026 và tăng 720 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, thu nhập bình quân của người lao động là 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 717 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II/2026 là 2,23%, trong đó khu vực thành thị là 2,49%; khu vực nông thôn là 2,06%. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động sáu tháng đầu năm 2025 là 2,22%, tương đương cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,47%; khu vực nông thôn là 2,05%.

b) Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Theo báo cáo điều tra lao động và việc làm hằng tháng, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng Sáu không thay đổi và tăng lên so với cùng kỳ năm trước là 96,9%. Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp, ngành thực hiện kịp thời, hiệu quả. Theo báo cáo từ địa phương, trong sáu tháng đầu năm nay (tính đến ngày 22/6/2026), lãnh đạo Trung ương và địa phương, các ban, ngành, đoàn thể, các nhà hảo tâm cũng đã tổ chức thăm hỏi, động viên và tặng quà cho nhiều đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15/3/2021 là hơn 21,9 nghìn tỷ đồng; hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội là 2,5 nghìn tỷ đồng; người có công, thân nhân người có công với cách mạng là hơn 22,1 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất, bất thường phát sinh tại địa phương hơn 199,3 tỷ đồng. Ngoài ra, bảo hiểm xã hội đã cấp phát hơn 35,7 triệu thẻ BHYT/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng.

Trong sáu tháng đầu năm nay, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã hỗ trợ cho người dân hơn 1.568,5 tấn gạo. Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, trong 6 tháng đầu năm, đã tìm kiếm, quy tập được 1.255 hài cốt liệt sĩ; đồng thời triển khai lấy mẫu hài cốt chưa xác định thông tin đối với 12.127 mộ liệt sĩ[4].

c) Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong Quý II, các hoạt động văn hóa trên cả nước diễn ra sôi nổi, gắn với các ngày lễ lớn của đất nước và nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Điểm nhấn của quý là chuỗi hoạt động hưởng ứng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4) tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam; các hoạt động kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5.

         Trong Quý II, hoạt động thể thao thành tích cao diễn ra sôi nổi với nhiều giải đấu và thành tích nổi bật của các đội tuyển quốc gia: Đội tuyển U17 Việt Nam vô địch Giải U17 Đông Nam Á 2026; Giải Vô địch các đội mạnh Kickboxing toàn quốc tổ chức tại Hà Nội; Giải Vô địch Đá cầu xuất sắc quốc gia diễn ra tại thành phố Huế, Cuộc đua xe đạp Cúp Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh…

d) Tai nạn giao thông

Trong sáu tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 7.755 vụ tai nạn giao thông, làm 4.832 người chết và 4.509 người bị thương. Bình quân 1 ngày trong sáu tháng đầu năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 43 vụ tai nạn giao thông, làm 27 người chết và 25 người bị thương.

đ) Thiệt hại do thiên tai

Trong sáu tháng đầu năm nay, thiên tai làm 28 người chết và mất tích, 65 người bị thương; 31,9 nghìn lúa và hoa màu bị hư hỏng; 6,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng, thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra ước tính 1.123,1 tỷ đồng, giảm 43,1% so với cùng kỳ năm 2025.

e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Trong sáu tháng đầu năm nay, các cơ quan chức năng đã phát hiện 9.640 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 7.824 vụ với tổng số tiền phạt là 144,5 tỷ đồng, tăng 25,0% so với cùng kỳ năm trước; xảy ra 1.517 vụ cháy, nổ, làm 54 người chết và 69 người bị thương, thiệt hại ước tính gần 534,5 tỷ đồng, tăng 98,9% so với cùng kỳ năm trước.

Khái quát lại, kết quả tích cực của tăng trưởng quý II và 6 tháng đầu năm 2026 là nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự chỉ đạo, quản lý điều hành đúng hướng, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, sự ủng hộ, đồng hành của doanh nghiệp và người dân trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức trước những biến động nhanh, bất thường của khu vực và thế giới.

Nguồn: nso.gov.vn